Đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, với yêu cầu cấp thiết phải phát huy cao hơn nữa vai trò của văn hóa trong chiến lược phát triển nhanh và bền vững. Ngày 7-1-2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW “Về phát triển văn hóa Việt Nam”, thể hiện bước phát triển về tư duy lý luận và phương thức lãnh đạo của Đảng ta trong lĩnh vực văn hóa, đáp ứng yêu cầu phát triển xứng tầm với nền văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới; xác định đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển bền vững đất nước, cho tương lai của dân tộc.
Tổng Bí thư Tô Lâm chúc Tết Đảng bộ, Chính quyền và Nhân dân Thủ đô Hà Nội, ngày 16/2/2026. Ảnh: TTXVN
Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, hướng tới hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2045, Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa, yêu cầu đối với phát triển văn hóa đã có sự chuyển biến căn bản cả về tư duy lẫn phương thức tiếp cận. Văn hóa vừa phải bảo tồn, giữ gìn bản sắc, đồng thời phải thực sự trở thành trụ cột phát triển, nguồn lực nội sinh quan trọng và động lực thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước.
Tuy nhiên, những hạn chế, bất cập trong phát triển văn hóa, nhất là về thể chế, nguồn lực, môi trường và không gian phát triển ngày càng bộc lộ rõ; công nghiệp văn hóa phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế; chênh lệch về mức độ tiếp cận và thụ hưởng văn hóa giữa các vùng, miền, nhóm xã hội khá lớn..., đặt ra nhiều thách thức đối với mục tiêu phát triển hài hòa và bền vững.
Nghị quyết số 80-NQ/TW được ban hành trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các nghị quyết, kết luận, chuyên đề trước đó, đồng thời tập trung tháo gỡ những “điểm nghẽn” mang tính cấu trúc trong phát triển văn hóa, nhất là về thể chế, nguồn lực, kiến tạo không gian phát triển mới cho nền văn hóa Việt Nam. Điểm nổi bật của Nghị quyết số 80-NQ/TW là sự đổi mới mạnh mẽ trong tư duy phát triển, thể hiện ở việc khẳng định vai trò trụ cột của văn hóa trong chiến lược phát triển quốc gia, coi đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển bền vững, cho tương lai của dân tộc.
Cơ sở lý luận và thực tiễn ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam
Văn hóa trong tư duy lý luận của Đảng qua các thời kỳ
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đề cao, coi trọng vị trí, vai trò, sức mạnh nội sinh của văn hóa; đặt văn hóa trong mối quan hệ hữu cơ với nhiệm vụ cách mạng, coi văn hóa là một mặt trận và xác lập những nguyên tắc nền tảng có ý nghĩa khai mở, có giá trị định hướng lâu dài cho sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam.
Trải qua các giai đoạn lịch sử, từ kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc, thống nhất đất nước đến thời kỳ hòa bình, độc lập, xây dựng và phát triển đất nước, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, đường lối văn hóa của Đảng tiếp tục được bổ sung, phát triển theo hướng toàn diện, gắn xây dựng văn hóa với xây dựng con người, phát triển kinh tế - xã hội và củng cố nền tảng tinh thần xã hội, khẳng định nhất quán vai trò trung tâm của văn hóa trong chiến lược phát triển đất nước.
Trong hệ thống lý luận của Đảng, văn hóa luôn được xác định là lĩnh vực có vị trí đặc biệt quan trọng, gắn bó hữu cơ với chính trị và kinh tế, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Đề cương về văn hóa Việt Nam (năm 1943) đã đặt nền móng cho tư duy lý luận của Đảng về văn hóa với ba nguyên tắc cốt lõi: dân tộc, khoa học, đại chúng; quan điểm coi “mặt trận văn hóa là một trong ba mặt trận” nhấn mạnh yêu cầu tiến hành đồng thời cách mạng chính trị và cách mạng văn hóa, cũng như vai trò lãnh đạo của Đảng đối với phong trào văn hóa, đã thể hiện tư duy lý luận tiến bộ và có giá trị khai mở đối với sự nghiệp xây dựng nền văn hóa mới ở Việt Nam.
Trong thời kỳ đổi mới, tư duy của Đảng về văn hóa tiếp tục được phát triển theo hướng toàn diện và hiện đại hơn. Các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”… đã từng bước làm rõ vai trò của văn hóa và con người Việt Nam trong chiến lược phát triển đất nước, nhấn mạnh yêu cầu xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; coi con người vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là mục tiêu cao nhất của phát triển, đồng thời khẳng định yêu cầu kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội và phát triển văn hóa.
Tại Đại hội XIII, tư duy lý luận của Đảng về văn hóa tiếp tục được nâng lên một tầm cao mới: phát triển văn hóa, con người là nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển nhanh và bền vững đất nước. Lần đầu tiên Đảng đặt ra một cách có hệ thống nhiệm vụ nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam gắn với giữ gìn và phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới.
Tuy nhiên, cách tiếp cận đối với đầu tư cho văn hóa, cơ chế huy động và phân bổ nguồn lực, cũng như mô hình quản trị văn hóa vẫn còn chưa thực sự đồng bộ, chưa tương xứng với vai trò, vị trí của văn hóa trong chiến lược phát triển quốc gia. Điều này đặt ra yêu cầu phải tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, nâng tầm văn hóa không chỉ là lĩnh vực xã hội - tinh thần mà là trụ cột phát triển, gắn kết chặt chẽ phát triển văn hóa với mục tiêu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới.
Thực tiễn phát triển văn hóa và những “điểm nghẽn” đang đặt ra
Thực tiễn phát triển văn hóa Việt Nam những năm qua cho thấy, chủ trương, đường lối của Đảng về văn hóa đã từng bước được thể chế hóa và tổ chức thực hiện, đạt nhiều kết quả quan trọng: Tư duy và nhận thức về vai trò của văn hóa tiếp tục có những bước phát triển mới; thể chế, chính sách được quan tâm, từng bước hoàn thiện; nguồn lực đầu tư cho phát triển văn hóa được tăng cường; công nghiệp văn hóa trên đà phát triển; các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi mặt của đời sống xã hội, khơi dậy truyền thống yêu nước, củng cố niềm tin và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; hội nhập quốc tế về văn hóa ngày càng được mở rộng, góp phần nâng cao tiềm lực, vị thế, uy tín, “sức mạnh mềm” của quốc gia.
Tuy nhiên, sự nghiệp phát triển văn hóa vẫn đang bộc lộ những hạn chế, bất cập. Nhận thức về vị trí, vai trò của văn hóa ở một số cấp, ngành và địa phương tuy đã được cải thiện nhưng chưa thực sự đầy đủ, chưa tương xứng với yêu cầu đặt ra trong bối cảnh phát triển mới. Trong thực tiễn hoạch định và thực thi chính sách, văn hóa nhiều khi vẫn bị xem là lĩnh vực “hậu cần”, chưa được đặt ngang tầm với kinh tế, chính trị; mối quan hệ giữa phát triển văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội chưa được xử lý hài hòa, dẫn đến tình trạng coi trọng tăng trưởng kinh tế trước mắt, trong khi đầu tư cho văn hóa còn dàn trải, thiếu trọng tâm, chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước và chưa tạo được cơ chế huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội.
Quá trình thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng về văn hóa thành hệ thống pháp luật, chính sách cụ thể còn chậm, thiếu đồng bộ và chưa theo kịp những biến đổi nhanh chóng của đời sống xã hội, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng. Cơ chế, chính sách hiện hành chưa thực sự khơi dậy và phát huy mạnh mẽ vai trò chủ thể sáng tạo của nhân dân, đội ngũ trí thức và văn nghệ sĩ; chưa hình thành được môi trường và hệ sinh thái văn hóa thuận lợi để nuôi dưỡng, lan tỏa các giá trị tiến bộ, nhân văn, sáng tạo.
Ở một số nơi, môi trường văn hóa chưa thực sự lành mạnh; các chuẩn mực đạo đức, lối sống có mặt bị xói mòn. Một số di sản văn hóa vật thể và phi vật thể đứng trước nguy cơ xuống cấp, mai một, trong khi công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản còn thiếu tính tổng thể, thiếu gắn kết chặt chẽ với phát triển bền vững và sinh kế của cộng đồng. Công nghiệp văn hóa và công nghiệp giải trí tuy được xác định là lĩnh vực có tiềm năng lớn, song phát triển chưa tương xứng với lợi thế, chưa trở thành ngành kinh tế quan trọng; năng lực cạnh tranh của các sản phẩm, dịch vụ văn hóa Việt Nam trên thị trường khu vực và quốc tế còn hạn chế, chưa hình thành được nhiều thương hiệu văn hóa có sức lan tỏa mạnh.